09:27 ICT Thứ bảy, 18/11/2017 Thiết kế websiteDanh bạ doanh nghiệpViệc lm - Mua bnLin hệ

Trang nhất » Tin Tức » Tin trong nước » Văn hóa

Cồng chiêng trong đời sống văn hóa của người Tà Ôi

Thứ năm - 06/12/2012 08:13
Cũng như các dân tộc khác trên dãy Trường Sơn - Tây Nguyên, nhạc cụ của người Tà ôi có rất nhiều loại, nghệ thuật diễn tấu cũng rất sinh động. Nhiều khi, dưới bàn tay và khối óc sáng tạo của mình, các nghệ nhân Tà ôi có thể diễn tấu nhiều làn điệu với chỉ một chiếc cồng hoặc chiêng cùng sự phụ hoạ thêm của trống hoặc khèn cũng đủ làm cho người thưởng thức cảm thấy như được hoà mình vào buổi trình diễn dân nhạc với cộng đồng.
Trong hệ thống dân nhạc của người Tà ôi, đặc sắc nhất vẫn là 3 loại nhạc cụ: cồng chiêng, trống và khèn. Trong đó, cồng chiêng ngoài ý nghĩa phục vụ đời sống tinh thần, nó còn là những tài sản quý giá của mỗi gia đình, gia tộc, vì nó là biểu tượng cho uy quyền và sự giàu có trước cộng đồng.
Từ trước đến nay, người Tà ôi đã có một lối ứng xử với văn hoá cồng chiêng của mình(1) và đã trở thành một nét đẹp ăn sâu vào trong tâm khảm của nhiều thế hệ. Đối với người Tà ôi, cồng chiêng là loại nhạc cụ không thể thiếu trong các nghi lễ như: tang ma, hôn nhân và lễ hội. Theo các nhà nghiên cứu mô tả thì: “Cồng chiêng của người Tà ôi được chia thành nhiều loại:
          - Coong (chiêng có núm): có đường kính 49cm.
          - Â rle (chiêng bằng): không có núm tròn ở giữa, đường kính 40cm.
Khi tấu lên những âm thanh trong nghi lễ Coong dùng đệm âm và Â rle dùng để hoà âm”(2). Nhưng thực ra, khi đi sâu vào điều tra, sưu tầm, nghiên cứu cồng chiêng Tà ôi, chúng tôi lại có thêm nhiều thông tin thú vị về chủng loại cũng như kích cỡ của hệ thống cồng chiêng mà người Tà ôi ở Việt Nam hiện đang lưu giữ và trưng dụng(3), điều này chúng tôi sẽ bàn trong một dịp khác. Bài viết này chỉ nêu ra những nét đặc sắc của cồng chiêng có ảnh hưởng trong đời sống văn hoá của người Tà ôi.
Ở người Tà ôi họ cho rằng, ngoài việc mỗi gia đình có nhiều cồng chiêng là quý thì chủ nhân của nó phải biết diễn tấu lại càng quý hơn. Vì sự kỳ diệu của nghệ thuật cồng chiêng thể hiện ở âm thanh, làm cho người thưởng thức biết được những chuyện vui buồn của gia đình, gia tộc hoặc rộng hơn nữa là cả cộng đồng. Khi nào người diễn tấu có trạng thái vui thì lời của cồng chiêng càng nhẹ nhàng và bay bổng, ngược lại khi có chuyện buồn thì âm thanh của nó lại dồn dập và nặng nề.
 Cồng chiêng Tà ôi thường được đánh bằng dùi gỗ bọc da bò để nguyên lông, hoặc đánh bằng nắm tay. Ngày nay, để cho tiện lợi trong khi diễn tấu, người Tà ôi lấy một khúc gỗ mềm, đẽo thành nắm đấm có tay cầm vừa tầm của nắm tay và trên đó bọc nhiều lớp bao nilon và cuộn băng keo dán. Điều này đã phần nào làm mất đi vẻ đẹp của cồng chiêng cũng như cách diễn tấu của họ nhưng chủ nhân của những chiếc cồng chiêng cho rằng ngày nay việc tìm da bò còn nguyên lông rất khó vả lại cách làm dùi đánh mới cũng chẳng ảnh hưởng gì đến âm thanh khi diễn tấu. Người Tà ôi còn có những quy định riêng cho mỗi giới tính khi sử dụng cồng chiêng, theo họ: “Cồng vừa là một nhạc cụ do nam giới sử dụng, là nhạc cụ nhưng vừa là “vật thiêng” vì có thể nói chuyện với Yàng, đồng thời đối với người Tà ôi, cồng chiêng là của cải. Người giàu có là người có nhiều cồng chiêng, trâu bò và họ thường phải về đồng bằng mua của người Kinh hoặc phải sang Lào để mua”(4).
Người Tà ôi đánh chiêng thường được thể hiện nội dung qua âm thanh bằng các nội dung như: đánh chiêng mời khách uống rượu, mời khách hút thuốc, mời khách ăn tiệc, tiễn khách ra về, thể hiện nỗi buồn vui...và cách đánh cồng chiêng của họ tuỳ thuộc vào lực và kỹ năng của người đánh:“Lúc cần thiết để tạo âm lượng lớn, ngân vang thì đánh trực tiếp vào mặt cồng, nhưng thường là dùng kỹ thuật bịt bàn tay lên các vị trí mặt cồng (đối với cồng phẳng), để tạo được nhiều âm khác nhau trong các âm hình tiết tấu ở nhịp độ nhanh. Kỹ thuật này làm mờ đi màu sắc kim khí, tiếng cồng mềm hẳn và thấp thoáng có tính giai điệu”(5).
Trong văn hoá tiếp khách của mình, người Tà ôi có một quy ước như sau: khi khách của làng khác đến thì trong ngôi nhà Moòng làng(6) sẽ có người trực tiếp đánh cồng chiêng để đón khách. Khách và chủ đều biết các điệu đánh của cồng chiêng để tiếp chuyện, ví như trong khi mời khách lên nhà sàn, uống nước, uống rượu, trò chuyện và tiễn khách đều có các bài đánh ra hiệu rất thuần thục từ phía người diễn tấu. Và trong cộng đồng, già làng chỉ chọn 1 người có thể nói là am hiểu nhiều phong tục tập quán của khách để đón khách, hoặc trong Hội đồng già làng tự đảm nhận công việc này nếu như không tìm ra người am hiểu làng của khách.
Khi trong làng có người chết thì cồng chiêng là phương tiện truyền tin bằng cách người đầu dòng họ có người chết chỉ đánh một hồi  rle dài, giữa tiếng cách tiếng khoảng 5 cái đánh khuỷ tay của người lớn(7), âm thanh của tiếng  rle chậm rãi khiến người nghe như có cảm giác rụng rời, bồn chồn, buồn bã và họ tìm đến nơi có tiếng  rle phát ra để tìm hiểu sự việc. Trong đám ma, người Tà ôi có thể dùng từ 1 - 2 chiếc  rle mà thôi, tuỳ theo thân phận và tuổi cũng như giới tính của người chết mà có cách quy định diễn tấu cồng chiêng khác nhau. Đối với trẻ em chết thì đám ma Tà ôi không sử dụng cồng chiêng mà chỉ dùng trống, nếu người ở độ tuổi trung niên thì chỉ dùng 1  rle và 1 trống do người thanh niên đánh, nếu người chết là các cụ già thì trong đám ma được sử dụng 2  rle và 2 trống, người diễn tấu đa phần là tầng lớp thanh niên, họ diễn tấu rất nhịp nhàng giữ  rle và trống cộng thêm vào đó là các cụ già thì hát Ri rọi để phụ hoạ. Trong khi diễn tấu cồng chiêng nếu như người nhà cảm thấy mệt thì sẽ có đám Radoóc thay thế, đám này đa phần là những thanh niên trẻ, khoẻ và tất nhiên họ cũng biết các bài diễn tấu cồng chiêng trong đám ma(8).
Vật tuỳ táng của người Tà ôi khi chết còn có cồng chiêng, và việc tuỳ táng này còn tuỳ thuộc theo độ tuổi và giới tính. Thông thường, người phụ nữ thì vật tuỳ táng chỉ yếu là những chiếc gùi cũ, còn đối với những già có uy tín trong dòng họ, cộng đồng thì táng cồng chiêng loại to, nặng. Người già nhưng không có uy tín thì táng chiêng vừa, người vừa tuổi thì táng chiêng thường và nhỏ, chất liệu xấu (hay còn gọi là chiêng rách). Còn người con trai chết trẻ thì không có hình thức này. Theo thông lệ cứ từ 5 - 10 năm thì người Tà ôi phải làm lễ cải táng mộ, thì những chiếc cồng chiêng tuỳ táng đó đều được đem theo về nơi mới, đây là vật không thể thiếu đối với người chết. Nếu như theo thời gian những chiếc cồng chiêng bị hoen ố, hư hỏng thì có thể gia chủ tạo ra những chiếc cồng chiêng mới trên chất liệu bằng gỗ và mây tre để mang ý nghĩa tượng trưng.
 Một nét hay trong việc tuỳ táng cồng chiêng ở người Tà ôi, đối với gia đình có người uy tín nhưng nghèo không có cồng chiêng thật thì họ có thể tạc những tượng nhà mồ với động tác đánh cồng chiêng hoặc đang mang cồng chiêng theo, chỉ chừng ấy thôi cũng đủ làm cho người chết cảm thấy được sự quan tâm của những người thân trong gia đình. Tập tục đó ngày nay vẫn còn duy trì ở cộng đồng người Tà ôi, và nhất là trong những lần làng bản tổ chức các lễ hội thì các nghệ nhân điêu khắc Tà ôi vẫn cố gắng tạc ra những bức tượng lột tả người đánh cồng chiêng một cách sống động.
Hoặc ở trên chiếc Tù ràng (quan tài) của người Tà ôi có nhiều cách trang trí, có loại dành cho nhà giàu và người có uy tín gọi là Tù ràng Paló (quan tài ngà voi). Loại này có chạm trổ, điêu khắc tỉ mỉ ở hai bên hông bằng những hình mặt trời, thú rừng, chim muông và thứ không thể thiếu là những chiếc cồng chiêng. Tất cả những hình này đều là hình nổi, thậm chí có khảm ngà voi to lớn cho nên mới có tên gọi như trên. 
Ở hoạt động săn bắt thú của người Cơtu ở huyện A Lưới (Thừa Thiên Huế) có quy định rằng: “Nếu săn bắt được thú rừng to thì đưa lên nhà Gươl thì sẽ sử dụng cồng chiêng và trống đánh lên báo hiệu để ăn mừng” trong khi đó, đối với người Tà ôi chuyện này thì ngược lại, luật tục Tà ôi có quy định khắt khe về cồng chiêng liên quan đến hoạt động săn bắt thú rằng: “Khi được thú rừng to hay nhỏ tuyệt đối không dùng cồng chiêng và trống trong nhà Moòng làng hoặc nhà Rông như hiện nay. Mà cồng chiêng, trống chỉ dùng khi trong làng có lễ lớn hoặc đám ma. Nếu ai vi phạm sẽ bị phạt nặng bằng nhiều cách khác nhau”(9).
Sở dĩ có những quy định như trên vì người Tà ôi cho rằng, cồng chiêng của họ không phải do chính họ làm ra, mà do một quá trình giao lưu văn hoá giữa miền xuôi và miền ngược một cách lâu đời. Cồng chiêng của họ khi mua, trao đổi về thường được cúng thần, để nơi trang trọng, được ký thác bằng những lời thề, lời hứa thiêng. Cho nên, chỉ có những người già, nam giới được sử dụng, được đánh những bài cồng chiêng trang trọng. Thịt thú rừng có nhiều máu sẽ làm ô uế đi sự chứng giám của thần, sợ thần quở phạt thì cả cộng đồng không được sự thương yêu che chở của thần.
Ngày trước, đám cưới của người Tà ôi là nỗi ám ảnh cho những chàng thanh niên nghèo, bởi vì một lẽ, nhà gái có những yêu cầu nhà trai phải cho lễ vật trong đám cưới rất lớn. Một đám cưới diễn ra thì trước đó khoảng 1 - 2 năm, chàng rể tương lai phải cố công đi rừng làm lụng cật lực để có nhiều sản vật thực hiện một chuyến về Huế hoặc vào Quảng Nam để đổi lấy cồng chiêng về làm quà cưới.
Một đám cưới của người Tà ôi ngày xưa phải trải qua 4 hình thức: Tổ chức đám cưới giữa hai làng, tổ chức đám cưới trong làng, tổ chức đám cưới nhỏ trong hai dòng họ, tổ chức đám cưới giữa hai gia đình. Trong 4 hình thức đám cưới này còn có hình thức tặng quà cáp, ngày trước người Tà ôi gọi là hình thức đi mua vợ.
Cồng chiêng là lễ vật không thể thiếu trong lễ cưới, do nhà trai mua tặng nhà gái, lễ trao tặng cồng chiêng được thực hiện ở bước rước dâu. Trong lúc đang tổ chức đám cưới tại nhà Moòng hoặc nhà Rông mấy chủ làng và hai gia đình tiếp rượu xong bên nhà trai sẽ chồng lên những hiện vật tặng cho nhà gái gồm: cồng chiêng khoảng 50 chiếc, chum choé khoảng 50 chiếc, chén, bát, thau chậu càng nhiều càng tốt và các thứ khác như vải dzèng và đồ trang sức đắt tiền, ngoài ra còn có trâu, bò, lợn, gà đều giao cho nhà gái.
Như vậy, lúc nào cồng chiêng cũng đứng vị trí hàng đầu trong việc định vị giá trị kinh tế và uy quyền của người Tà ôi. Trong đám cưới, ở giai đoạn diễn xướng dân ca thì cồng chiêng cùng với tiếng trống tham gia vào cuộc vui: “Lúc mọi người vẫn ăn uống vui vẻ trong tiếng cồng, tiếng trống, chủ nhà gái cất tiếng hát càlơi chúc mừng nhà trai và công nhận con gái chúng tôi từ giờ phút này hoàn toàn thuộc về gia đình chồng...”(10).
Ở lĩnh vực trang trí nội thất ngôi nhà Moòng làng hoặc ngôi nhà Rông, nội thất ngôi nhà ở của người Tà ôi thì cồng chiêng vẫn là một đề tài làm tô điểm thêm giá trị văn hoá cho ngôi nhà.
Thông thường ở ngôi nhà chung, người Tà ôi thường treo từ 3 - 5 chiếc, trong đó 1 cái Coong và 3 - 4 cái  rle, đây là của cải chung của cả làng, là kết quả của sự đóng góp tiền bạc hoặc sản vật để đổi lấy về cho làng. Vì vậy, cồng chiêng treo ở đây không phải ai cũng có thể đánh được mà phải được sự cho phép của già làng, hoặc già làng cử người bảo quản và sử dụng nó. Những khi làng có khách quý hoặc lễ hội thì những chiếc cồng chiêng đó mới được trưng dụng. Tuy cồng chiêng quý để ngoài nhà Rông nhưng không bị đánh mất vì họ quan niệm rằng trong cồng chiêng đã có hồn của Yàng, đã ký thác cho Yàng nên Yàng giữ mãi, ai có ý xấu sẽ bị quở phạt bằng cách ngứa ngáy, ghẻ lở hoặc ốm đau triền miên thậm chí bị điên.
Đối với nội thất ngôi nhà Moòng làng thì cách bài trí cồng chiêng được thể hiện ngay tại phòng tiếp khách, phòng khách thường có diện tích lớn nằm ở vị trí trang trọng giữa nhà. Nơi đây dùng để đựng các loại tài sản quý giá của gia tộc như chiêng núm, chiêng bằng, chóe, chum, nồi đồng và còn là nơi đặt các án thờ linh thiêng. Trên vách của phòng khách, chủ nhân thường treo các miếng da thú hoặc những bộ răng lợn rừng khi đi săn về để nhằm tăng thêm sức mạnh cho gia tộc. Bên cạnh đó họ còn trưng bày các dụng cụ âm nhạc như kèn, tù và, sừng trâu, trống da...(11).
Nội thất ngôi nhà ở thì tuỳ theo tiềm lực kinh tế của gia chủ mà có nhiều cách bài trí khác nhau, một đặc tính rõ nét nhất của người Tà ôi là ưa bày biện tất cả những gì quý giá nhất mà mình có, một gia chủ giàu nhất có thể trưng bày đến 20 chiếc cồng chiêng và 10 chiếc nồi đồng. Trường hợp gia đình ông Vỗ Mương (xã A Vao, Đắckrông, Quảng Trị) có đến 50 chiếc cồng chiêng loại lớn và quý, hơn 50 chiếc nồi đồng lớn nhỏ. Hoặc gia đình ông Vỗ Nơ (thôn Tân Đi 3, xã A Vao, huyện Đắckrông, tỉnh Quảng Trị) treo đến 8 chiếc  rle và 1 chiếc Coong, bên góc nhà trưng bày 10 chiếc nồi đồng đủ bộ từ nhỏ nhất đến lớn nhất. Như vậy “Cồng chiêng của người Tà ôi thường có trong các gia đình có người cao tuổi, được treo ở vị trí trang trọng trong nhà, thậm chí họ còn đặt ngay trên cả bàn thờ cho nên tính thiêng liêng của nó ăn sâu vào tâm khảm của người dân nơi đây. Vì thế, ngày nay người Tà ôi mới không có nạn chảy máu cồng chiêng như ở nhiều nơi khác”(12).
Ngày nay, ở vùng người Tà ôi những nét văn hoá trang trí đó vẫn còn hiện hữu trong đời sống cộng đồng, song theo sự quan sát của chúng tôi thì nhóm Pacô ở 4 xã A Bung, A Ngo, A Vao và Tà Rụt thuộc huyện Đắckrông, tỉnh Quảng Trị còn bảo lưu nhiều dấu ấn hơn cả. Trong lúc đó người Tà ôi ở A Lưới thì cách trang trí cồng chiêng trong các loại nhà nêu  trên hạn chế về số lượng, nhiều nhất chỉ 3 chiếc, ít nhất 1 chiếc.
Người Tà ôi còn sử dụng cồng chiêng trong công việc thường ngày, ví như lấy cồng chiêng làm nắp đậy trên miệng các loại nồi đồng khi nấu ăn, lấy cồng chiêng để đựng đồ ăn, thức uống mỗi khi làng có lễ hội. Chính vì thế mà trong văn học dân gian, người Tà ôi đã thể hiện điều đó qua câu ca rằng:
“Lật ngửa cồng ra
Đổ cho đầy rượu
Lật ngửa chiêng ra
Sắp cho đầy thịt
Mời Yàng về ăn với bản làng
Cho con suối nhiều nước
Cho mưa về ngô lúa thêm xanh”
          Còn ở câu đố của người Tà ôi có nói về cồng chiêng: “Càng bế càng ẵm lại càng khóc” hoặc:
“Cái gì mình càng yêu thương
Càng nâng niu nó càng khóc nhiều”
          Trong đám cưới, lễ vật cồng chiêng lại được thể hiện qua làn điệu dân ca với nội dung:
“Cồng chiêng khiêng lợn đưa nàng
Thắt lưng, bưng bó dzèng mang về chồng”
Nét đặc sắc trong văn hoá cồng chiêng của người Tà ôi được thể hiện ở nghệ thuật dân vũ của họ. Trong bất cứ loại hình múa nào của người Tà ôi, người ta cũng sử dụng các loại nhạc cụ sau: Trống, khèn bè, cồng chiêng, tù và sừng trâu, chiếc Tingát và cái xập xõa. Đối với cồng chiêng thì động tác đánh cồng chiêng (nam) ở quá trình múa được thể hiện như sau: “Người đỏ về phía trước, vai trái đeo chiêng, đánh bằng dùi, vừa đánh vừa di chuyển thấp, tay phải đánh, tay trái điều chỉnh âm thanh trên mặt chiêng, âm thanh lúc vang, lúc dừng (theo tiếng trống bung, bục bục bục, bung, bục bục bục, bục bục bục, bung…)”(13). Âm nhạc trong múa của người Tà ôi từ múa trong lao động, sinh hoạt hay múa trong tín ngưỡng thì các loại nhạc cụ diễn tấu cho múa quan trọng và phổ biến nhất vẫn là cồng chiêng, trống, tù và. Mọi sinh hoạt cộng đồng có múa nhất thiết phải có các nhạc cụ trên tham gia.
Ngày nay, với sự phát triển và sự xâm nhập ồ ạt của các luồng văn hoá mới, cồng chiêng Tà ôi cũng có những sự thay đổi nhiều mặt, nhất là việc diễn tấu cồng chiêng. Nếu như ngày trước người phụ nữ Tà ôi không có cơ hội diễn tấu cồng chiêng, thì ngày nay trên các sân khấu hiện đại, đội Thông tin lưu động của huyện A Lưới hoặc các đội văn nghệ dân gian làng bản thì người diễn viên nữ diễn tấu chiêng bằng, chiêng núm một cách thuần thục, đa dạng về nội dung bài diễn tấu. Đây là một tín hiệu vui, bởi vì hiện tại lớp già của người Tà ôi ngày càng vắng bóng, khi họ mất đi là mang theo tất cả những ngón nghề về cồng chiêng, do vậy những ai học được cách đánh cồng chiêng đều được khuyến khích, và phong trào này được nhân rộng lên một cách nhanh chóng trong những đội văn nghệ qua những hội thi các cấp trong những ngày hoặc dịp lễ lớn.
Qua những phân tích và dẫn chứng nêu trên cho chúng ta thấy rằng: mặc dù người Tà ôi không trực tiếp chế tạo nên những chiếc cồng chiêng, mà đó là sản phẩm của một quá trình trao đổi với người Việt ở đồng bằng từ xưa đến nay. Song không vì thế mà người Tà ôi không quý trọng cồng chiêng mà ngược lại, theo kết quả điều tra phỏng vấn của chúng tôi thì: đối với người Tà ôi cồng chiêng đứng vị trí đầu bảng trong hệ thống nhạc cụ của họ, tiếp đến là thứ của cải quý giá ngang hàng với bạc nén và mã não trong trang sức, thứ nữa là thứ uy tín của từng dòng họ, biểu tượng cho sự lớn mạnh của cộng đồng.
Rất tiếc cho việc trong những năm chiến tranh, có rất nhiều cồng chiêng của người Tà ôi được đem chôn hoặc cất giấu trong các hang núi, hốc đá, nương rẫy…để rồi khi hoà bình trở lại, bà con trở về làng cũ, vật đổi sao dời những dấu xưa tích cũ phai mờ nên những chiếc cồng chiêng quý, cổ nằm lại trong long đất. Sau này thỉnh thoảng có những đoàn người rà tìm phế liệu phát hiện ra những bộ chiêng, bộ mâm, bộ nồi đồng hoặc những vật dụng quý khác. Nhưng vì miếng cơm manh áo nên họ không nghĩ gì về văn hoá hoặc vật gia truyền của dân tộc mình nên vô tình những chiếc cồng chiêng cổ quý giá rơi vào các đại lý sắt vụn. 
Hiện nay, nhằm bảo tồn các dạng thức văn hoá đang được lưu truyền trong nhân dân, tỉnh Thừa Thiên Huế đã tổ chức lớp truyền dạy âm nhạc và nghệ thuật biểu diễn dân gian cho thế hệ trẻ. Trong năm 2008 đã tổ chức các lớp truyền dạy âm nhạc và nghệ thuật biểu diễn dân gian cho nhân dân Tà ôi, Cơtu ở 4 xã (A Ngo, Hồng Thái, Hồng Trung và Nhâm) trên địa bàn huyện A Lưới, ngoài các làn điệu dân ca truyền thống, các điệu múa dân gian thì hàng chục bài diễn tấu về cồng chiêng được các nghệ nhân Quỳnh Hoàng, Quỳnh Hầu, Vỗ Lan, Quỳnh Kê…thể hiện và truyền đạt kinh nghiệm cho lớp trẻ. Đây là một tín hiệu vui, là cách đưa cồng chiêng ngày càng ăn sâu vào đời sống văn hoá của người Tà ôi ở thời hiện đại.
Năm 2009, từ nguồn kinh phí chương trình mục tiêu quốc gia về văn hoá. Sở Văn hoá - Thể thao và Du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế sẽ tiến hành tổ chức điều tra tổng thể văn hoá phi vật thể trên địa bàn toàn tỉnh. Khi đó, cồng chiêng Tà ôi lại một lần nữa sống dậy không chỉ kết quả khả quan của những con số chỉ số lượng, phân loại chất lượng cồng chiêng mà còn có cả ghi âm, ghi hình những nghệ nhân diễn tấu những bài cồng chiêng cổ mà nó đã từng vang giữa chốn đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ. Và đó là cách tốt nhất khi Nhà nước và nhân dân cùng làm, cùng tổng điều tra văn hoá phi vật thể trong đó có bộ phận cồng chiêng người Việt ở đồng bằng hội tụ với cồng chiêng người Tà ôi ở miền núi.
Thể theo nguyện vọng của người Tà ôi, hiện nay ở các tỉnh Tây Nguyên, các cấp chính quyền địa phương mua cồng chiêng tặng các nhà Rông văn hoá. Vậy thì ở vùng người Tà ôi sinh sống, các cấp chính quyền 2 tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên Huế nên cần có sự đầu tư như các tỉnh Tây Nguyên để đồng bào có điều kiện bảo tồn và phát huy vốn truyền thống. Được biết mô hình này đã từng được áp dụng đối với đồng bào nhóm Pahy, Pacô ở bản Hạ Long (xã Phong Mỹ, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế) khi dự án Hành lang xanh (WFF) ở Huế tài trợ cho nhà sinh hoạt cộng đồng một số cồng chiêng và trống, để người dân nơi đây sinh hoạt văn hoá, góp phần cho Ban quản lý dự án thực hiện việc tuyên truyền pháp luật về vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái cho Khu Bảo tồn thiên nhiên Phong Điền. Kết quả qua vài năm cho thấy đây là một mô hình tốt, có hiệu quả rõ rệt.
Cuối cùng xin mượn lời của các nhà nghiên cứu văn hoá Tà ôi để thấy được rằng cồng chiêng có ảnh hưởng to lớn trong đời sống văn hoá của người Tà ôi đến nhường nào: “Có thể nói, cồng chiêng Tà ôi có vị trí không chỉ quan trọng trong kho tàng nghệ thuật, mà còn cả trong đời sống tâm linh tình cảm, là hiệu lệnh cho nhịp sống của dân tộc Tà ôi. Cồng chiêng thực sự đã đi vào đời sống hằng ngày một cách gắn bó. Tiếng cồng xuyên suốt cuộc đời họ, thực sự là linh hồn, là cuộc sống của người dân nơi đây. Chẳng những loại hình nhạc cụ này mang nhiều giá trị về mặt nghệ thuật, âm nhạc, mà còn giữ những chuẩn mực xã hội, làm thước đo cho sự giàu có”(14).
          **********************
 
            Chú thích:
            (1): Xem them: Trần Nguyễn Khánh Phong (2007): Cách ứng xử của người Tà ôi với cồng chiêng. Trong: Thông báo Văn hoá dân gian 2006. NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, trang 212 - 220.
          (2)&(14): Viện Văn hoá - Thông tin, Hoàng Sơn (Chủ biên) (2007): Người Tà ôi ở Thừa Thiên Huế. NXB Văn hoá dân tộc, Hà Nội, trang 194.
          (3): Trần Nguyễn Khánh Phong: Điều tra văn hoá vật thể và phi vật thể của người Tà ôi ở Việt Nam (3 tập): Tập 1: Vật dụng bằng đồng và gốm sứ, đất nung. Tập 2: Nhạc cụ truyền thống. Tập 3: Nhà cửa truyền thống. Tài liệu hạn chế. A Lưới: 6.2009.
Ở đây chúng tôi thực hiện tổng điều tra trên diện rộng địa bàn có người Tà ôi, Pacô và Pahy sinh sống. Cụ thể toàn huyện A Lưới, xã Hồng Tiến, Bình Thành (huyện Hương Trà), xã Phong Mỹ (huyện Phong Điền), xã A Bung, A Ngo, A Vao, Tà Rụt (huyện Đắckrông, Quảng Trị), các xã A Xing, A Túc, A Dơi (huyện Hướng Hoá, Quảng Trị). Chương trình điều tra độc lập được sự giới thiệu và giúp đỡ của Phòng Văn hoá - Thông tin của các huyện nói trên. Nhân đây tác giả xin chân thành cảm ơn lãnh đạo các Phòng Văn hoá - Thông tin huyện, các cán bộ Ban Văn hoá Thông tin các xã, các trưởng thôn, các đồn biên phòng đóng trên địa bàn đã tận tình giúp đỡ tạo điều kiện để chúng tôi hoàn thành cuộc tổng điều tra nói trên.
(4)&(13): Sở Khoa học và Công nghệ Thừa Thiên Huế (2005): Sưu tầm dân ca, dân nhạc, dân vũ của các dân tộc thiểu số Thừa Thiên Huế. Đề tài nghiên cứu khoa học, Huế, tháng 3.2005, trang 48, 189.
(5): Dương Bích Hà (2000): Âm nhạc trong lễ cầu mùa của người Tà ôi ở Thừa Thiên Huế. Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số 8(194), trang 77.
(6): Ngày trước người Tà ôi chưa có kiểu nhà Rông như bây giờ, trong làng có thể là 1 dòng họ hoặc nhiều hơn nhưng mỗi dòng họ ở một ngôi nhà dài gọi là Dungtaradat, ở ngôi nhà dài phần giữa có 1 phòng rộng dung để làm nơi sinh hoạt chung cho cả dòng họ, phần đó được xem như phòng khách nên gọi là nhà Moòng làng. Ngày nay, do sự tan rã của những ngôi nhà dài vì chính sách định canh, định cư nên phần nhà Moòng đó là hình bóng của ngôi nhà Rông bây giờ.
(7): Người Tà ôi thường có cách tính độ vang xa của tiếng cồng,  tiếng chiêng là: Khi đánh lên thì có một người lớn đặt hai tay vào ngực sau đó đưa thẳng ra rồi đưa vào ngực liên tiếp như thế đến khi nào tiếng vang dứt hẳn thì đo được độ dài của âm thanh cồng chiêng. Cho nên, có những chiếc cồng chiêng, tiếng vang của nó xa đến vài chục cái đánh khuỷ tay như vậy.
(8): Đám Radoóc: Trong đám cưới cũng như trong đám tang của người Tà ôi bao giờ cũng có đám Radoóc này tham gia, đám này đa phần là những thanh niên trẻ, khỏe, đẹp ở trong làng, có độ tuổi từ 15 - 25, chưa lập gia đình. Đám Radoóc tham gia các lễ này với nhiệm vụ bảo vệ an ninh trật tự trong thời gian diễn ra lễ hội, hòa giải các vụ lộn xộn do thanh niên nơi khác đến gây sự, tham gia sinh hoạt dân ca, dân vũ. Gia chủ có thể niềm nở đón khách này hoặc không cũng được, vì đám Radoóc thực hiện công việc theo ý thức tự nguyện của họ và khi xong lễ ra về cũng thế, họ không nề hà trong việc ăn uống hoặc tiền công, miễn sao đem lại niềm vui và an toàn cho đám cưới cũng như trong đám tang là được rồi. (Tư liệu điền dã ngày 12/12/2004).
(9): Tư liệu điền dã của tác giả ngày 15/06/2007 do ông Kê Xuân Lớp, thôn Hợp Thành, xã A Ngo, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế cung cấp.
(10): Vĩnh Phúc (2000): Vài nét về sinh hoạt âm nhạc trong trình thức đám cưới của người Tà ôi. Tập Nghiên cứu Văn hoá dân gian Thừa Thiên Huế, tháng 12.2000, trang 91.
(11): Xem thêm: Trần Nguyễn Khánh Phong (2006): Nhà của người Tà ôi. Trong: Thông báo Văn hoá dân gian 2005. NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, trang 608 - 609 .
(12): Trần Nguyễn Khánh Phong (2004): Vài nét về dân ca, dân nhạc, dân vũ của người Tà ôi. Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, Sở Khoa học và Công nghệ Thừa Thiên Huế, số 2(45), trang 28.  

                                                                                                                                                                   Tác giả Trần Nguyễn Khánh Phong      
Hãy share nếu bạn thấy thích, cám ơn!
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Thành viên

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 20


Hôm nayHôm nay : 1408

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 51808

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 3582525

Custom Search

Hotels in Huecity

 check out this page for a dependable seller that will give you the acim video you're looking for quickly and easily. | Create a professional website with the free website builder from KixGO | If you are not interested in luggage storage service , then you have already missed a lot. | join us for the best martial arts singapore | For more gotherecheaply consult the experts at gotherecheaply | We have more than 10 years of experience in Hair dressing Industry and have a good reputation in this field.We hot sale the Virgin brazilian Peruvian Malaysian Indian Curly Hair wigs.products have won praise from customers worldwide. https://www.justvirginhair.com/ ,have the departments for specialized in collecting the raw material of human hairs,have strict control in the quality.Try our best to provide top quality product with reasonable price.Our aim is to help customers realize their goals.